Tính góc cope.
Saddle bend (mối hàn yên ngựa) là biên dạng cắt cần thiết để ghép một ống nhánh vào bề mặt cong bên ngoài của ống chạy chính (như yên ngựa). Máy tính này giải ra độ sâu cắt và đường viền cope từ đường kính ngoài ống nhánh, đường kính ngoài ống chính, góc giao và chiều dày thành, tạo ra hình triển khai phẳng có thể quấn quanh ống nhánh để đánh dấu.
Khi ống nhánh đường kính D_b gặp ống chính đường kính D_r ở góc θ, biên dạng cope đi theo đường cong được tạo ra bằng cách chiếu giao điểm các đường tròn lên bề mặt ống nhánh. Độ sâu cope tối đa trên đường tâm là D_b/2 − √((D_r/2)² − (D_b/2 × sin θ)²) với ống nhánh vuông góc ống chính. Máy tính xấp xỉ hình triển khai bằng cách chia chu vi thành 12 điểm và tính chiều sâu cắt hướng kính tại mỗi điểm — đủ chính xác cho đánh dấu bằng tay. Với trường hợp đường kính bằng nhau hoặc gần bằng nhau, độ sâu cope tiến đến D_r/2 và biên dạng trở thành elip. Đầu ống nhánh được cắt theo biên dạng này, sau đó mài để khớp hàn đối đầu phẳng.
Thợ ống gia công ống nhánh 50 mm vào ống góp 200 mm ở góc 90° tính độ sâu saddle 13 mm, đánh dấu 12 điểm dọc chu vi ống nhánh theo cope triển khai, rồi cắt bằng đèn oxy-axetylen với khe hở khớp 1,5 mm.
Thợ hàn gia công nhánh 45° trên đường ống công nghệ 100 mm dùng máy tính triển khai cope elip, ra cope dài hơn ở một phía, in mẫu giấy quấn ống nhánh để đánh dấu.
Kỹ thuật viên bảo trì lắp miếng vá sửa chữa khẩn cấp nhập kích thước vào máy tính, lấy đường viền cope cho đường cong trong của đai kẹp saddle và cắt chỉnh đai trên máy cưa băng để có bề mặt tiếp xúc kín.
90° (tê vuông góc) là phổ biến nhất. Nhánh nghiêng 45° dùng khi cần phân nhánh với tổn thất áp suất thấp hơn và phân phối dòng chảy dễ hơn. Các góc khác (60°, 30°) xuất hiện trong kết cấu hình học đặc biệt.
Với tỷ lệ đường kính nhánh/ống chính dưới 0,6, hình triển khai 12 điểm sai lệch trong vòng 1–2 mm so với cope chính xác. Với tỷ lệ lớn hơn, nên dùng 24 điểm hoặc triển khai bằng CAD.
Có, với mối hàn xuyên hoàn toàn. Cope đánh dấu trên OD phải được dịch vào trong một lượng bằng chiều dày thành để chừa lại mặt chân hàn phẳng. Thêm 1–1,5 mm độ sâu cope cho mỗi 3 mm chiều dày thành.