Tính đường kính ống thủy lực được khuyến nghị.
Chọn cỡ đường ống thủy lực là xác định đường kính trong phù hợp để dẫn lưu lượng yêu cầu ở vận tốc an toàn, tránh xâm thực ở phía hút, tránh tổn thất áp suất ở phía áp lực và tránh hòa khí ở phía hồi dầu. Máy tính này giải ra kích thước ống danh nghĩa từ lưu lượng và dải vận tốc cho từng chức năng: hút, áp lực và hồi dầu. Dùng khi thiết kế hệ thống mới hoặc khi cải tạo đường ống hiện có cho lưu lượng cao hơn.
Tiết diện yêu cầu A = Q / v trong đó Q là lưu lượng và v là vận tốc mục tiêu. Với dầu thủy lực, dải vận tốc an toàn là 0,6–1,2 m/s trên đường hút, 3–5 m/s trên đường áp lực và 2–3 m/s trên đường hồi. Đường kính trong D = √(4 × A / π). Máy tính chuyển đổi sang kích thước ống danh nghĩa tiêu chuẩn (NPS hoặc DN) theo kích thước Schedule 40, sau đó xác nhận vận tốc thực tế nằm trong dải cho phép. Vận tốc đường hút là yếu tố quan trọng nhất: vượt 1,5 m/s thì áp suất hút có thể giảm xuống dưới NPSH yêu cầu của bơm, gây xâm thực, tiếng ồn và mòn. Vận tốc quá cao phía áp lực chỉ làm tăng tổn thất ma sát theo v². Vận tốc quá cao trên đường hồi tạo xoáy hòa khí trong bể và đẩy nhanh quá trình oxy hóa dầu.
Kỹ sư thiết kế bộ nguồn cần dẫn 60 lít/phút đến bơm cánh gạt chọn ống Schedule 40 cỡ 1 inch (ID 26 mm), xác nhận 1,9 m/s vượt giới hạn đường hút và nâng cỡ lên 1,25 inch (ID 35 mm) để hạ vận tốc xuống 1,0 m/s.
OEM nâng hệ thống từ 30 lên 50 lít/phút kiểm tra đường áp lực 1/2 inch hiện có, tính được 6,5 m/s (vượt giới hạn), và khuyến nghị nâng cỡ lên 5/8 inch để giữ vận tốc dưới 5 m/s và tránh phạt tổn thất ma sát.
Kỹ sư bảo trì xử lý hiện tượng bọt trong bể đo được 4 m/s trên đường hồi 3/4 inch, nâng cỡ lên 1 inch (2,2 m/s) và giải quyết hòa khí mà không cần động đến mạch làm mát hay lọc dầu.
Biên dự trữ NPSH yêu cầu của bơm được nhà sản xuất xác định với giả định vận tốc hút dưới 1,2 m/s. Vận tốc cao hơn gây tổn thất áp suất phía hút, làm áp suất đầu vào giảm xuống dưới áp suất bão hòa, gây xâm thực, tiếng ồn và hư hỏng.
Không. Đường ống áp lực thủy lực phải dùng thép hoặc thép không gỉ. Ống nhựa và PVC không đạt áp suất làm việc (trên 200 bar) và có thể vỡ thảm khốc. Ống cao su cốt thép được chấp nhận theo SAE J517.
Chiều dày thành ống xác định khả năng chịu áp, không phải lưu lượng. Với đường áp lực trên 200 bar cần dùng Schedule 80 trở lên. Đường kính trong dùng để tính lưu lượng sẽ nhỏ đi khi thành dày hơn, vì vậy luôn kiểm tra ID thực tế so với ống danh nghĩa Schedule 40.